April 30, 2026

Hiên nhà truyền thống Việt Nam: Như thành phần văn hoá kết nối xã hội và tạo bản sắc đô thị

Tóm tắt

Hiên nhà, nơi đối thoại, tương tác giữa con người và tự nhiên – Là một trong những thành phần kiến trúc đặc trưng nhà ở dân gian Việt Nam. Kết quả khảo sát lịch sử và thực tế, đã cho thấy kể từ giai đoạn Đổi mới (1986), đất nước chú trọng vào phát triển kinh tế, nhà ở hiện đại đô thị phát triển mạnh mẽ, hiên đã bị chuyển đổi hình thức và chức năng và hầu như mất dấu. Nghiên cứu tiếp cận hiên nhà hay không gian ngưỡng, như thành phần văn hóa phi vật thể của người Việt, có ký ức tập thể, bao gồm cách ứng xử với điều kiện môi trường, thói quen sống nguyên thủy cá nhân và hoạt động giao tiếp cộng đồng. Ngoài ra, hiên nhà còn định hướng sự sắp xếp các không gian khác của kiến trúc và tạo thẩm mỹ mặt đứng. Hiên cần được tái sinh trở lại trong kiến trúc đô thị, cấu thành chuỗi không gian văn hóa nội đô sống động để kết nối xã hội và tạo bản sắc đô thị trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay.

Từ khóa: Không gian ngưỡng, Văn hóa phi vật thể, Không gian dưỡng sinh, Không gian văn hóa nội đô.

Đặt vấn đề

Hiên có thể xem như một không gian căn bản của cư trú trong sự đặt để của nơi chốn nhà ở dân gian, nơi lưu và mở ra nhiều kỷ niệm, với các hoạt động sinh hoạt quen thuộc hằng ngày. Ban ngày, tại hiên diễn ra các hoạt động chủ yếu là đón khách, nghỉ trưa hay lao động sản xuất. Vào chiều tối thì dùng cho sum họp gia đình, chia sẻ tâm tư và ôn lại kỷ niệm đã qua. Ở đô thị, hiên nhà có chức năng kết nối xã hội – Theo John Portman thì: Nó có chức năng tạo dựng ký ức tập thể, gắn kết nơi chốn công cộng và riêng tư, thu hút cư dân, và nâng cao thẩm mỹ đô thị.

Nhà Shotgun ở Khu Fifth Ward,Houston, Texas, 1973. [3]

Hiện nay, trong khi các đô thị Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập nước ngoài mạnh mẽ, hiên nhà lại đang trong sự lãng quên, hầu như đã chuyển hóa thành ban công, logia, sân thượng và vườn trên mái. Vỉa hè bị chiếm dụng như hiên trước nhà và có thêm chức năng công cộng, sinh hoạt cộng đồng và buôn bán. Điều ấy cho thấy: Tập quán sử dụng không gian hiên đã khắc sâu trong tâm trí và đời sống người Việt, và thói quen này mâu thuẫn với lề sống hiện đại .

Trong tâm thức người Việt đang rất cần những khoảng không gian để thở, nghỉ ngơi, giải trí và sinh hoạt xóm giềng.
Nghiên cứu làm rõ vai trò và ý nghĩa của hiên trong nhà ở người Việt trong sự tương quan với hiên ở nước ngoài để nhận thấy rằng: Hiên một bộ phận kiến trúc của nhà truyền thống xứng đáng là di sản văn hóa của người Việt, không thể thiếu đối với nhà ở phố thị trong bối cảnh sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay. Theo đó, hiên nhà được nhìn nhận như thành phần văn hóa phi vật thể, một phát minh về mặt xã hội, khí hậu và văn hóa. Nó góp phần tạo cơ hội cho bầu không khí sống động của đô thị xảy ra và mang đặc tính hướng ngoại từ trong cấu trúc hòa nhập với khu vực xung quanh và kết nối. Ngoài ra, không gian Hiên được xem như thành tố căn bản định hướng cho bố cục không gian công năng và thẩm mỹ mặt đứng kiến trúc đô thị. Hiên nhà của người Việt, như vậy, cần được tái sinh ở kiến trúc và trong lòng thành phố đương đại như một nhu cầu thiết yếu hướng tới phát triển một đô thị hiện đại giàu bản sắc Việt.

Các hiểu biết về Hiên

 Hiên qua các thuật ngữ

Hiên nhà có nguồn gốc sâu xa và được phát triển một cách tự nhiên khác nhau giữa các nền văn minh. Hình dạng hiên nhà sớm nhất có thể là các mỏm đá tự nhiên dùng làm nơi trú ẩn. Trong lịch sử kiến trúc thế giới, từ cổ đại, trung cổ, đến giai đoạn hiện đại, hiên đều phục vụ những mục đích thiết thực, chẳng hạn như che chắn thời tiết và phát triển thành những không gian xã hội quan trọng như tụ họp và sinh hoạt cộng đồng. Hiên có thể ở trước nhà hoặc hiên vây quanh sân trong, có bể nước ở giữa, Atrium, phía trên có mái được chống đỡ bởi hàng cột chạy bốn phía xung quanh.

Thuật ngữ Hiên hiện đại – “Porch” có nguồn từ tiếng Pháp cổ “porche”, từ năm 1300, có nghĩa hiên nhà hoặc tiền sảnh. Từ này có nguồn gốc từ tiếng Latinh “porticus” hoặc tiếng Hy Lạp portico: “Một cấu trúc bên ngoài nhà liền kề, hành lang có mái che, lối đi có mái che giữa các cột, mái vòm, cổng vòm, hoặc hiên nhà”. Porche được mượn trực tiếp vào tiếng Anh cổ là portic, cuối thế kỷ 14, để chỉ “lối đi hoặc hàng cột có mái che ở mặt trước hoặc bên hông tòa nhà”. Năm 1711, còn có tên gọi khác “veranda” – “Hiên mở ở bên ngoài tòa nhà có mái che trên các cột trụ và lan can”, được người Anh sử dụng, bắt nguồn từ tiếng Hindi của người Ấn độ “varanda”. Từ này được người Pháp vay mượn trở thành véranda [1].

Hiên nhà phía trước được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm 1832 với thuật ngữ “porch” để chỉ Hiên như người Anh “veranda”, bắt nguồn từ truyền thống châu Phi, đặc biệt là bộ tộc Yoruba, nơi hiên đóng vai trò không gian quan trọng cho sự an toàn và kết nối xã hội, sau đó được du nhập vào châu Mỹ. Túp lều thằng đứng “Tikay” phiên bản đầu tiên du nhập vào Haiti được gọi là Kombet. Nó được sao chép ở miền Đông Nam Hoa Kỳ và trở thành nhà “shotgun”. Theo Germane Barnes, hiên trở thành một đặc điểm nổi bật, đa dạng, trong kiến trúc Mỹ thế kỷ 19, và trở thành nơi cư dân nuôi dưỡng tinh thần cộng đồng trong khi tìm kiếm làn gió mát giữa khí hậu oi bức trong thế kỷ 20. Barnes khẳng định: “Khi nghĩ về hiên nhà, chúng ta nghĩ về tầm quan trọng của nó đối với cảm giác thuộc về. Hiên nhà có thể là một tiệm làm tóc, nơi trị liệu, nơi có rất nhiều sách phía trước và trở thành thư viện của bạn” [2].

Nhà cổ Thái Bình của Phạm Văn Chủ, 1872. [4]

Hiên nhà Việt Nam gắn liền với nhà ở dân gian và là bộ phận kiến trúc Việt nguyên thủy đa chức năng và linh hoạt, biểu hiện sự thích nghi với khí hậu, sự an toàn và tổ chức sinh hoạt cộng đồng của cư dân nông nghiệp lúa nước định cư lâu dài tạo nên cấu trúc “làng”. Bố cục không gian của nhà ở dân gian truyền thống của người Việt gồm sân, hiên và nhà chính. Hiên vừa là bộ phận bảo vệ các bộ phận tường và cửa bên trong nhà, ngăn cản sự xâm nhập sâu của mưa và bức xạ mặt trời vào trong nhà, đồng thời tạo bầu không khí “xã hội” trước nhà.

Sự khởi nguồn của cấu trúc hiên nhà của người Việt cũng tương tự như ở các nền văn hóa khác trên thế giới, từ những phiến đá nhô ra trước cửa hang động hoặc mái đua ra của những túp lều tạm bợ thời kỳ đồ đá cũ những năm trước năm 10.000 TCN. Thời kỳ sơ thủy năm 5000 TCN đến thế kỷ I SCN, hiên là khoảng đệm giữa ngoài trời và không gian ở, nền đất hoặc sàn nhà đưa ra phía trước, trên có mái, đóng vai trò lối vào, chỗ phơi nông sản và đồng thời là chỗ tiếp khách. Thời kỳ Bắc thuộc từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 10, ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, hiên sâu, có cột hiên, ở phía trước lối vào chính hoặc vây quanh sân trong và bắt đầu thể hiện trang trí tại không gian hiên này bằng kỹ thuật ghép nối kết cấu và điêu khắc trang trí trực tiếp trên kết cấu đỡ hệ mái hiên. Thời phong kiến độc lập từ thế kỷ 10 đến 19, bố cục không gian nhà ở được mở rộng thành sân, hiên, gian nhà chính (3 hoặc năm gian) và 2 chái hai bên. Hiên truyền thống nhà ở Việt giai đoạn này phát triển rực rỡ, không gian hiên rộng, có mở rộng hiên ra quanh nhà, mái hiên chính trước nhà dốc lớn, đua ra sâu hơn che mưa nắng, có họa tiết điêu khắc trang trí trên kết cấu tạo dựng hiên tinh xảo. Thời Pháp thuộc, từ thế kỷ 9 đến giữa thế kỷ 20, ảnh hưởng của văn hóa Pháp, hiên nhà ở xuất hiện ở nhà phố và biệt thự theo kiểu veranda châu Âu, cá tính, đơn giản và sang trọng. Ở nông thôn, hiên nhà vẫn được sử dụng, tuy nhiên chức năng xã hội suy giảm, hình thức đơn giản tập trung vào việc thích nghi với khí hậu địa phương. Từ sau thời kỳ đổi mới (năm 1986), theo xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, hiên nhà ở Việt Nam hầu như bị quên lãng trong các khu đô thị mới. Nếu có, thì bị chuyển sang các hình thức ban công hoặc logia ở nhà phố thị. Tại đây, con người thu mình vào trong các không gian bên trong cùng với áp lực của đời sống hằng ngày. Bản sắc văn hóa xây, ở trong việc kiến tạo nơi chốn đặc trưng của người Việt theo đó dần biến mất, nhường chỗ cho văn hóa cá nhân, có thể nói là văn hóa quốc tế.

Hiên như là ngưỡng

Theo từ điển Cambridge, “threshold” là ngưỡng của cửa – “Sàn nhà hoặc lối vào một tòa nhà hoặc căn phòng”. Theo từ điển Longman, threshold là “Mức độ mà một điều gì đó bắt đầu xảy ra hoặc có tác động” và “Ở thời điểm bắt đầu của một sự kiện hoặc diễn biến mới và quan trọng”. Walter Benjamin đã lưu ý, ngưỡng phải được phân biệt cẩn thận với ranh giới [5].

Theo định nghĩa này, ngưỡng cửa được xem xét giống như một yếu tố không gian phân tách hoặc kết nối nằm giữa các không gian khác nhau.

Như thế, trong kiến trúc, hiên (porch) có thể là khoảng không tham chiếu, được hiểu là không gian chuyển tiếp kết nối giữa hai phạm vi không gian (phía trong và phía ngoài nhà), có khả năng chuyển đổi [8]. Tại đây, ý thức con người đồng qui những kinh nghiệm của quá khứ, chuyển hóa và nhận thức thành kinh nghiệm mới. Không gian chuyển tiếp tạo ra bầu không khí thân mật hấp dẫn, nơi con người tụ hội hay dừng lại trong không gian đó, đi qua, hoặc tạm dừng, và có thể lặp đi lặp lại các hoạt động ấy. Theo đó, Till Boettger đã đề xuất khái niệm thứ hai về Hiên, không gian ngưỡng (Threshold space), là một khoảng không bất định “Thành phần không gian của cảnh quan, tạo nên sự chuyển tiếp tích hợp, tinh tế và phức tạp. Không gian này tương đối nhỏ, đặt giữa các không gian lớn hơn hoặc giữa các tòa nhà và cảnh quan. Không gian ngưỡng kết nối cấu trúc cảnh quan lại với nhau và hội vào chính nó”, theo Catherine Dee [9]. Tại đây, con người có một khoảnh khắc mơ hồ, phân vân không xác định bên trong hay bên ngoài. Vì thế, Hiên có chức năng kép nhập nhằng, mơ hồ tách biệt cũng như liên kết hai cõi khác nhau. Để tạo ra đặc trưng nơi chốn, thành phần Hiên như “nẻo vào-ra”, không thể thiếu trong kiến trúc và đô thị, trung chuyển trạng thái tâm lý con người theo không gian và thời gian giữa hai cõi trong và ngoài, riêng tư và công cộng, hoặc đóng hoặc mở. Khi tham gia vào một bối cảnh kiến trúc hay đô thị, hiên cho quá cảnh vào cư lưu, ví dụ như sự di chuyển của con người qua các ngưỡng cửa như cửa ra vào, hiên nhà, hàng cột, mái hiên, vòm khải hoàn, sân thượng, lều bạt, cầu thang, sân trong, loggia và bậc thềm. Đi qua ranh giới vật lý, sự giao thoa giữa các ranh giới môi trường, âm thanh và thị giác con người tương tác với luồng không khí, ánh sáng, âm thanh và mùi hương [7]. Khi ấy, cảnh quan và bầu không khí trong và ngoài nhà được trải nghiệm và nhận thức mới. Các cảm thức thoải mái được cho bởi thị giác, khứu giác và âm thanh về độ ẩm, lạnh, nóng, hoặc mùi… tùy thuộc vào cách hiên được “ý định” thiết kế ban đầu. Thi vị ở chỗ, tại hiên, hay qua hiên, ra ngoài hay vào trong, là diễn biến phức tạp của các giác quan, trạng thái tâm lý, nhận thức mới và tái nhận thức của con người gắn liền với các ý nghĩa biểu tượng, nghi lễ, và quy tắc ứng xử văn hóa xã hội cụ thể.

Hiên nhà truyền thống người Việt

Hiên nhà ở truyền thống của người Việt thường trước nhà, được các bậc tiền nhân xử lý khéo léo và tài tình, ứng biến theo từng vùng khí hậu khác nhau, một nét đặc trưng về văn hóa truyền thống. Hiên nhà ở Bắc bộ, ngoài chức năng sinh hoạt gia đình và xóm giềng, điều tiết khí hậu rất ý nhị.

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nhiều biến động đột ngột và phức tạp, bốn mùa rõ rệt, lượng mưa lớn, thì có thêm tấm phên liếp đan bằng tre hoặc ghép gỗ có tác dụng ngăn nắng và chống mưa tạt rất hiệu quả. Nó làm dịu đáng kể độ nắng chói chang và cái nóng gay gắt vào mùa hè, hắt từ mặt sân vào những lúc trưa oi bức. Có nơi tấm phên này có thể chống lên hạ xuống. Đôi khi còn thêm một đoạn mái bằng vật liệu nhẹ che cho phần hiên được mở rộng, lúc này trở thành không gian nửa kín nửa thoáng, rất phù hợp với khí hậu vùng đồng bằng Bắc bộ.

Hiên nhà ở Bắc Bộ đặc trưng [9]

Hiên nhà của người miền Trung, nhất là từ Huế trở vào cũng có sự khác nhau rõ rệt trong cách tư duy, cảm nhận, chiêm nghiệm cuộc sống, ứng xử với chốn ở và môi trường. Tiêu biểu như ở kiến trúc Nhà vườn An Hiên, nơi còn lưu giữ được gần như nguyên vẹn hình thái trước nhà, đáp ứng được thói quen, tập tục ăn ở, sinh sống của cư dân địa phương và thể hiện nét đẹp văn hóa ứng xử với tự nhiên của người dân cố đô. Hơn một trăm năm, đã trải qua nhiều đời chủ nhân, cùng bao thăng trầm lịch sử và sự tàn phá khắc nghiệt của con người và thời gian, đôi khi bị bỏ hoang không người ở, bị nhiều mất mát và hư hại, dẫu vậy đến ngày hôm nay hiên nhà ở An Hiên vẫn hiện sinh bền bỉ với giá trị kiến trúc và bản sắc văn hóa địa phương sâu sắc. Hiên nhà ở phố thị cũng tiếp nối nhà vườn truyền thống nhưng tiếp xúc sát với mặt đường và hẹp hơn trước kia. Nhà ở phố thị được khai thác không gian tầng cao, xây thêm một tầng gọi là nhà gác với ban công hẹp ở trước nhà như một hình thức hiên được chuyển đổi. Tổng thể không gian hiên tầng trệt và ban công tầng trên tạo thành mặt tiền cho ngôi nhà kéo dài suốt ba gian là một nét đặc trưng nơi đây. Ở Huế, từ không gian hiên nhà chuyển tiếp, nơi lắng lại suy tư về quá khứ, con người cảm nhận một thế giới sâu hơn, chậm hơn và bình lặng hơn, khác với cuộc sống bên ngoài [15].

Hiên nhà ở An Hiên, Huế [11] [12]
Hiên nhà ở đặc trưng Nam Bộ [13] [14]

Người miền Nam không nệ vào lề lối và quy ước xã hội và có quan niệm khá đơn giản về ngôi nhà và quy mô ở tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi gia đình. Đất ở của mỗi nhà thường rất rộng. Diện tích mặt bằng các nhà chính phụ không bị hạn chế, có vườn cây bao quanh, phát triển về phía sau nhà. Do đặc trưng khí hậu nhiệt đới ẩm điển hình, ổn định và ít thiên tai, hiên nhà truyền thống Nam bộ có sự liên kết trực tiếp với thiên nhiên và mở ra với láng giềng một cách phóng khoáng, thể hiện sự cởi mở trong giao tiếp của chủ nhân cũng như hòa nhập vào cộng đồng. Hiên rộng, vách bằng song gỗ tạo khe thông gió và lấy sáng. Tại hiên thường kê phản, mắc võng, là nơi nghỉ trưa hoặc sum họp bên các bữa ăn gia đình. Ngoài ra, tại đây còn là không gian sinh hoạt văn hóa xây dựng các mối quan hệ cộng đồng. Không gian này dùng để tụ họp trò chuyện cùng hàng xóm, hoặc ngồi thưởng thức trà, ngắm cảnh vào những buổi trăng thanh gió mát. Ở vùng sông nước mương lạch thường cặp sát nhà, kết nối với nhà thông qua hiên phía trước.

Nơi chốn văn hóa bền vững

Kiến tạo bản sắc kiến trúc

“Nơi chốn hay thực tại gắn liền với mỗi người. Có mặt nơi nào đó, nghĩa là có loại hình nào đó của nơi chốn. Như thế, nơi chốn là điều kiện tất yếu, như không khí ta hít thở, mặt đất nơi ta đứng, thân thể ta có. Nơi chốn bảo bọc chúng ta cho việc đến, lại gần, đi qua, gắn những thứ khác liền vào, và chết trong các nơi ấy, không thể làm được gì mà không có nơi chốn” [15]. Nơi chốn được hiểu là không gian ba chiều, kích thước trống không, bao gồm địa hình, cảnh quan tổng thể. Căn phòng hay kiến trúc, với tư cách là khối tích, được định vị trong cõi không gian của nơi chốn với đặc tính của vùng miền, của tự nhiên, văn hóa, xã hội. Theo nghĩa này, hiên nhà chính là nơi chốn ký ức của mỗi người, nhất là những ai đã từng sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà dân gian truyền thống hay đã từng một lần dừng chân trong không gian ấy. Cái khoảng trống với công năng đơn giản làm khoảng đệm mà chất chứa trong đó nhiều kỷ niệm và hoạt động cá nhân gắn liền với đời sống địa phương, thân thiện với môi trường [19].

Hoạt động văn hóa là việc cá nhân hoặc nhóm tham gia vào các sự kiện có giá trị cộng đồng và niềm tin, bao gồm duy trì sức khỏe, chữa bệnh tự nhiên, làm vườn, vẽ tranh phong cảnh, thực hành thư pháp, sáng tác thơ, uống trà, chơi trò chơi, chơi nhạc cụ truyền thống, ca hát, tổ chức sinh nhật, tổ chức đám giỗ, … Sự tham gia rộng rãi, toàn diện vào các hoạt động văn hóa của nhiều cá nhân và tổ chức trong kiến trúc nói riêng và đô thị nói chung góp phần tạo nên sức sống cộng đồng và phát triển bền vững. Tính bền vững văn hóa đạt được khi qua các hoạt động văn hóa xã hội nhiệt tình đón nhận. Do vậy, hoạt động văn hóa như chất xúc tác tạo bền vững văn hóa. Darlow đã cho rằng phát triển bền vững phần lớn là một nhiệm vụ văn hóa vì nó tìm kiếm một sự thay đổi trong thái độ và lối sống [17]. Trong nhà ở truyền thống người Việt, không gian ở với hiên thoáng quây quần sân trước và sân trong đã tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa, lễ hội gia đình và xóm giềng được diễn ra thuận tiện. Hiên đóng vai trò chính, tạo điều kiện cho sức sống văn hóa và cảnh quan, đóng góp cho sức khỏe và tâm lý hạnh phúc của người dân.
Dean Hawkes cũng đã lập luận rằng: Hiên nhà về lý thuyết tiến hóa, đã phát triển chọn lọc và vẫn còn lưu vết cho đến nay. Dù trong bất kỳ hình thức bị biến đổi nào, hiên vẫn tạo điều kiện cho sự kết nối giữa quá khứ và thực tại, giữa tạo dựng thủ công và công nghệ xây dựng đương đại, trong quan hệ với sự thoải mái khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, bối cảnh kiến trúc, đô thị, và đặc trưng vùng miền [18].

Như vậy, hiên nhà mang đặc tính nơi chốn, bất biến trong sự thay đổi tự nhiên, văn hóa, và xã hội. Các hoạt động văn hóa đa dạng tại hiên cũng đồng nghĩa với tính đa năng, nơi diễn ra các hoạt động và thúc đẩy văn hóa phát triển bền vững dựa trên sự tiếp nối của kí ức. Sự bảo tồn và phát triển hiên nhà truyền thống sẽ tạo ra một sự thay đổi tích cực trong thái độ và lối sống con người và trong cả việc sáng tạo xã hội.

 Kiến tạo bản sắc đô thị

Trên thế giới hiện nay, hiên bắt đầu cho sự riêng tư của một ngôi nhà giữa quang cảnh đường phố của một khu phố. Đảm nhận vai trò lối vào, bên cửa sổ để suy ngẫm, nơi tụ tập và như một sân khấu, hiên nhà đã trở thành đại diện cho cộng đồng và bản sắc của nhiều khu phố ở các nước phát triển, tiêu biểu ở Hoa Kỳ và Anh. Được tạo thành từ nhiều yếu tố phong cách với kích thước và hình dạng khác nhau, những yếu tố này gắn kết các khu phố với nhau bằng cách tạo ra một không gian giao thoa giữa ngôi nhà và đường phố, đan xen cuộc sống gia đình bên trong ngôi nhà và cuộc sống công cộng bên ngoài, và tạo ra một không gian giữa riêng tư và công cộng cho cả những cuộc gặp gỡ tình cờ và để dừng lại.

Người phương Tây thể hiện hiên nhà trong phim ảnh và văn học như sân khấu của những cuộc trò chuyện sâu sắc và thay đổi cuộc sống, đại diện cho một không gian ngưỡng thoải mái để nán lại giữa gia đình và công cộng. Đối với nhiều cộng đồng ở Hoa Kỳ, hiên nhà đã trở thành biểu tượng của bản sắc văn hóa [16].

Đối với người Việt, hiên nhà dù trải qua nhiều thăng trầm lịch sử tuy thay đổi về hình thức nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa của một lối sống chậm rãi và thảnh thơi. Kể cả khi người dân ở các thành phố phát triển và có điều kiện sống thoải mái hơn, tuy trong hình hài khác, hiên cũng trở thành không gian riêng tư cho các gia đình nghỉ ngơi, tụ họp và thương mại. Về bản chất xã hội, không gian này cơ bản như một phòng khách ngoài trời, nơi mọi người có thể tâm tình đến tận đêm khuya. Với sự phổ biến ấy, hiên đã trở thành một thành phần không gian không thể thiếu của đời sống gia đình người Việt, ghi nhận sự kiện lịch sử và những câu chuyện đầy hy vọng được chia sẻ.

Trước đây, sự mở rộng đô thị và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, những không gian ngưỡng này đã giảm dần theo thời gian. Khi ô tô trở nên phổ biến tại Việt Nam vào những năm 1990, việc xây dựng nhà phố mới đã ưu tiên sân sau và gara phía trước. Tại những nơi này, mọi người có thể ra vào nhà và ở ngoài trời mà không cần gặp gỡ hay tương tác với hàng xóm. Sự chuyển dịch theo hướng này đã tạo ra một ranh giới phân ly giữa không gian riêng tư và công cộng, đồng thời tạo cảm giác mất kết nối ở nhiều thành phố hiện đại của Việt Nam càng trầm trọng hơn, kèm theo thiếu cơ sở hạ tầng xã hội và sự phụ thuộc ngày càng tăng vào công nghệ giải trí.

Mặc dù không phổ biến trong các công trình xây dựng mới, hiên nhà truyền thống người Việt vẫn giữ được vị thế biểu tượng trong các con phố cổ, chẳng hạn như hiên nhà ống phố cổ Hà Nội và Hội An với mái đua và hàng cột tạo khoảng che cho người đi bộ và khách mua hàng, Hiên nhà rường và nhà vườn Huế với hành lang hiên bao quanh, mở ra khu vườn, kết nối cảnh quan.

Hiên nhà đã hầu như biến mất khỏi ý niệm xây – ở của người Việt ngày nay, nhưng quá khứ của nó có thể cho bài học về một bộ phận kiến trúc giữ một vị trí đặc biệt cho những người hàng xóm ngay tại ngưỡng cửa của nhà – Một loại kiến trúc ưu tiên nuôi dưỡng ý thức cộng đồng gia đình, xã hội và địa điểm và bằng cách đó, hiên nhà truyền thống Việt Nam đã tạo ra ý thức về bản sắc tập thể và sự tham gia của công dân, và được xem như là di sản văn hóa của người Việt cần được gìn giữ, bảo tồn, và phát huy. Hiên nhà không chỉ có mục đích sử dụng, mà đã ghi dấu ấn vào không gian và thời gian một ý nghĩa nào đó hữu ích, về cái đẹp, về cuộc sống ở đô thị và về mối quan hệ giữa người với người. Trong bối cảnh lớn hơn, hiên nhà ở truyền thống là “Quá khứ, phần nào là ký ức tập thể của một xã hội, là lịch sử gắn kết cư dân một cộng đồng, kinh qua kinh nghiệm một lối sống, nền văn hóa và môi trường chung. Tất cả yếu đố gom lại sẽ tạo nên cái di sản văn hóa phi vật thể gọi là hồn đô thị” [20].

Không gian nội đô Hiên: Kết nối và phát triển

Không gian nội đô (Interior Urbanism) bắt nguồn từ các công trình của John Portman và cộng sự tại Mỹ vào những năm 1960 và 1970. Chẳng hạn như Trung tâm Peachtree ở Atlanta và Khách sạn Bonnaventure ở Los Angeles được đánh dấu bằng các giếng trời nội thất rộng lớn, không chỉ tái hiện hình ảnh khách sạn và không gian thương mại mà còn tái hiện bản chất của khu trung tâm nước Mỹ trong thời kỳ hỗn loạn văn hóa [21]. Sảnh công trình được chuyển đổi thành không gian chung có điều hòa nhiệt độ, khuyến khích cả khách lưu trú và khách tham quan ở lại lâu hơn. Tuy nhiên, không gian này tạo thành một hòn đảo nhân tạo khép kín, ngăn cản cư dân ra ngoài và tham gia vào cuộc sống đường phố đô thị, mặc dù Portman không ý định tách biệt các tòa nhà khỏi không gian sống ngoài trời, mà như “lá phổi đô thị” để giảm bớt sự đông đúc và náo nhiệt của các khu phố trung tâm. Sảnh trung tâm như những giếng trời cao vút, luân chuyển năng lượng ra phần còn lại của thành phố. Mô hình của Portman đề xuất mối quan hệ tương hỗ giữa không gian công cộng trong nhà và ngoài trời, nơi cuộc sống đô thị hòa quyện liền mạch giữa hai không gian [22]. Với cách hiểu như thế, ở Việt Nam sự thay đổi lối sống do công nghiệp hóa và hiện đại hóa qua nhiều thế hệ, cùng với mong muốn tránh xa một số điều kiện thời tiết nhất định, đã một cách tự nhiên hình thành và phát triển chủ nghĩa nội đô trong kiến trúc. Vấn đề sẽ ngày càng trở nên quan trọng khi mà xã hội có 70-90% cuộc sống con người diễn ra trong nhà, bao gồm trong những không gian nội thất rộng lớn của siêu khách sạn, trung tâm mua sắm và các trung tâm giao thông. Điều này hình như đã và đang dẫn đến các hình thức kiến trúc, cảnh quan đô thị bên ngoài không còn được chú ý, các ký ức đô thị và kiến trúc dần bị lãng quên, và các cộng đồng xã hội “phân rã” trong đời thực.

Có thể nhận thấy, các hoạt động trong không gian ngoài trời giữa các tòa nhà rất quan trọng để hình thành các mối quan hệ xã hội và được coi là cơ sở cần thiết để xây dựng một cộng đồng. Qua sự sắp xếp của các yếu tố không gian ngoài trời, không gian ngưỡng, khối nhà, đường dẫn, và các khu vực cây xanh sẽ cung cấp các điều kiện để xảy ra tương tác xã hội. Một môi trường bên ngoài mát mẻ và sáng sủa hơn cũng sẽ góp phần vào chất lượng môi trường bên trong của các tòa nhà riêng lẻ. Các không gian mở và bán mở được thiết kế xen lẫn vào kiến trúc, làm các tòa nhà có “độ co giãn” dễ thở. Cho nên không gian nội đô Portman thay vì là ốc đảo nhân tạo như là các sảnh chính rộng lớn trong nhà, ý tưởng không gian nội đô như là hiên trước các tòa nhà sẽ gắn kết các điểm kết nối bên trong lẫn bên ngoài nhà và tự vận hành một cách năng động hòa lẫn vào các cấu trúc hình thức đặc thù của mỗi công trình. Lúc này, hiên nhà công cộng như một cửa ngõ không gian cho sự kết nối diễn ra, là một ngưỡng phân chia giữa công trình kiến trúc và đường đô thị. Đường phố cho giao thông kết nối với vỉa hè đến hiên đi vào Kiến trúc. Tổng thể này giải tỏa sức căng cho người giao thông, đi bộ, sự tụ hội, sự riêng tư,… tất cả trình hiện một hình ảnh đầy sức sống của đô thị văn hóa Việt. Tại đấy, hiên nhà được tạo ra cho sự tương tác gặp gỡ hàng xóm đa dạng, mua sắm tại địa phương, tiếp xúc với sự khác biệt, tất cả diễn ra trong môi trường an toàn với sự cởi mở và kết nối của đường phố. Charles Rice cũng đã kết luận rằng, việc khai thác các ý đồ về tổ chức không gian hiên truyền thống trong kiến trúc đô thị có tác dụng về mặt thị giác lẫn tâm lý đối với người sử dụng, qua việc kết nối không gian đường phố và không gian đô thị chặt chẽ, thu hút và gắn kết cộng đồng, và mở ra khả năng phát triển văn hóa bền vững cho đô thị.

Kết luận

Hiên nhà ở truyền thống đã khắc sâu vào tâm thức người Việt, bằng cách này hay cách khác vẫn tồn tại và hiện diện trong các nhiều hình thức khác nhau trong kiến trúc và đô thị, trở thành không gian văn hóa thi vị, và hơn nữa đã được đưa vào nghệ thuật thơ ca có giá trị thẩm mỹ riêng nhất định. Điều đó cho thấy, hiên nhà gắn kết mật thiết với đời sống sinh hoạt thường ngày của con người và trở thành các không gian ký ức tập thể gắn liền với nơi chốn xây dựng. Theo đó, hiên nhà đã không thể thiếu khi bàn đến không gian đặc trưng nơi chốn văn hóa Việt Nam, không gian cư trú truyền thống đậm đà bản sắc và đầy chất sống. Đây là không gian nguyên sơ nhất trong việc thiết lập nơi chốn cư trú, biểu hiện thích ứng của con người với điều kiện tự nhiên, nhu cầu giao tiếp xã hội và thực hiện nghi lễ. Không gian ngưỡng này đạt sự hài hòa ở bốn cấp độ: 1) bên trong cá nhân (hòa hợp với bản thân), 2) giữa cá nhân và xã hội (hòa hợp với con người), 3) giữa cá nhân và môi trường tự nhiên (hòa hợp với đất), và 4) giữa cá nhân và vũ trụ (hòa hợp với trời).

Tốc độ đô thị hóa càng tăng nhanh khiến các đô thị Việt Nam đứng trước vấn đề quá tải về nhập cư, môi trường, và phát triển bền vững. Việc thiết kế xây dựng mang không gian hiên trở lại kiến trúc vừa đáp ứng nhu cầu ở xã hội vừa thân thiện môi trường nên được nhìn nhận như là mạch truyền thống văn hóa được tiếp tục, trong đó, hình thức có thể thay đổi và bản chất của hiên vẫn giữ như đã từng trong quá khứ. Hiên được xem như di sản văn hóa của người Việt, cần được giữ gìn, tiếp nối, và đưa vào thiết kế sử dụng nhà phố thị như là cấu trúc ở sinh thái đặc trưng hay một chỉnh thể không gian văn hóa đặc trưng của người Việt. Ít nhất, với tác dụng điều tiết khí hậu, hiên trở thành yếu tố quan trọng trong kiến trúc đô thị Việt Nam nói chung cũng như ngôi nhà Việt nói riêng trong biến đối cảnh biến đổi khí hậu. Đồng thời, hiên nhà ở truyền thống trong đô thị đang đứng trước thách thức của đòi hỏi thời đại giao lưu, học hỏi và hội nhập.

Cần có định hướng nghiên cứu và xây dựng hệ thống pháp lý, hệ thống tư liệu thiết kế kiến trúc, đưa hiên nhà ở truyền thống vào danh sách di sản văn hóa vật thể đối với hình thức và di sản phi vật thể đối với không gian. Từ đó, tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị loại hình Hiên truyền thống này, chứ không loại trừ như hiện nay với lý do nhu cầu lợi nhuận kinh tế mà các đô thị Việt Nam đã và đang thực hiện.

TS. KTS Trần Minh Đức*
Khoa Mỹ thuật – Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2026)


Tài liệu tham khảo
[1] “Origin and history of porch,” Etymonline, 2001-2025. [Online];
[2] C. Bournea, “Ohio State presentation explores global history of the front porch,” OSU.EDU, 6 2 2024. [Online];
[3] D. Lyon, “Shotgun House,” Wikipedia, 14 2 2026. [Online]. [Accessed 1 3 2026];
[4] Lương Hà: “Chiêm ngưỡng ngôi nhà cổ hơn 150 tuổi giữ nguyên kiến trúc ở Thái Bình” – Báo Lao Động, 20 8 2023. [Online]. [Accessed 1 3 2026];
[5] E. Alakavuk: “Threshold Approaches to Architectural Design,” – in ERPA International Congresses on Education 2018, Istanbul, 2018.
[6] C. Dee: “Thresholds” – in Form and Fabric in Landscape Architecture, Spon Press, 2001, p. 169;
[7] Q. Stevens: “Betwixt and Between: Building thresholds, liminality and public space,” in Loose Space: Possibility and Diversity in Urban Life, K. A. Franck and Q. Stevens, Eds., London and New York, Routledge, 2007, pp. 73-92;
[8] Võ Thị Thu Thủy: “Thiên nhiên trong kiến trúc nhà ở truyền thống Việt” – Hà Nội: NXB Xây dựng, 2018, pp. 9-131;
[9] Trọng Trinh: “Ngôi nhà hơn 200 tuổi đặc trưng Bắc Bộ hiếm có ở Hà Nội” – Dân Trí, 8 5 2019. [Online]. [Accessed 1 3 2026];
[10] Hà Thành: “An Hiên – mái hiên yên bình” – Tạp chí Kiến trúc, 16 8 2018. [Online];
[11] SOVABA TRAVEL: “Nhà vườn An Hiên: Nét cổ kính đẹp say lòng giữa Huế,” SOVABA TRAVEL, 21 11 2025. [Online]. [Accessed 1 3 2026];
[12] Trúc Uyên: “Tìm về chút hương xưa tại nhà vườn An Hiên – Chốn bình yên xứ Huế” Mia, 6 1 2025. [Online]. [Accessed 1 3 2026];
[13] Huỳnh Lâm: “Nét đẹp nhà xưa” – CàMau Online, 30 6 2024. [Online]. [Accessed 1 3 2026];
[14] Lê Hoàng Vũ: “Nét nhà miền Tây” – Nông nghiệp môi trường, 2 9 2016. [Online]. [Accessed 1 3 2026];
[15] Trần Minh Đức: “Đào tạo phương pháp thiết kế hồn nơi chốn” – Tạp chí kiến trúc, no. 12, p. 116, 2018;
[16] Phạm Phú Song Hưng: “Hình thức không gian hiên từ truyền thống đến đương đại trong kiến trúc nhà ở riêng lẻ tại TP.HCM” – Viện sau ĐH, Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM, 2020;
[17] A. DarLow: “Cultural Policy and Urban Sustainability: Making a missing link?”- Planning Practice & Research, vol. 11, no. 3, pp. 291-301, 1996;
[18] D. Hawkes: ” The Selective Environment: Environmental Design and Cultural Identity,” in Tropical sustainable architecttue: Social and Environmental Dimmensions, Elsevier, 2006, pp. 29-45;
[19] C. B. Huaroc: “Lessons From the Porch: Building Community at the Domestic Threshold,” – Archdaily, 21 3 2024. [Online];
[20] Nguyễn Hữu Thái: “Đi tìm cái hồn đô thị Sài Gòn,” – Bảo tồn & phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn TP. HCM, NXB Trẻ, 2002, p. 383;
[21] C. Rice: “The Geometry of Interior Urbanism” – in Interior Urbanism, Bloomsbury , 2016, pp. 77-87;
[22] A. Gattupalli: “Interior Urbanism: The Implications of Indoor Public Space” – Archdaily, 8 1 2024. [Online].



Nguồn