February 20, 2026

KTS Frank LLoyd Wright: “Quyển thánh kinh của tôi là thiên nhiên”

Frank Lloyd Wright (1867 – 1959) – KTS lừng danh của nước Mỹ, sinh ra tại Richland Center, tiểu bang Wisconsin, Mỹ. Năm 1895, ông được Đại học Wisconsin trao bằng Tiến sĩ danh dự Mỹ học. Cha ông là một mục sư có tài diễn thuyết, kiêm giáo viên dạy nhạc và hành nghề luật sư không thường xuyên. Không chỉ một lần Frank Lloyd Wright nói: “Quyển Thánh kinh của tôi là thiên nhiên” – Có thể xem đây là phương châm sáng tác nhất quán của ông. Quả tình, tất cả những gì do nhà kiến trúc đại tài của nước Mỹ làm nên đều đúng với phương châm ấy.

KTS Frank Lloyd Wright (1867 – 1959)

Ngày Wright còn nhỏ, người mẹ rất mong cậu con trai sau này lớn lên sẽ xây dựng được những tòa nhà đẹp. Từ khi còn mang thai, bà đã nói, nếu đứa bé là con trai thì sau này sẽ trở thành KTS danh tiếng. Bà trang hoàng phòng ngủ của con trai bằng những bức tranh khắc thể hiện kiến trúc nhà thờ Vương quốc Anh, để nuôi dưỡng hoài bão cho cậu bé. Thuở nhỏ Wright rất thích chơi trò xếp hình. Wright đã viết trong hồi ký của mình về ảnh hưởng của trò chơi đó: “Trong vài năm, tôi ngồi trước bàn của trẻ mẫu giáo, ngày ngày chơi với những khối vuông, khối cầu và hình tam giác…tất cả những khối hình bằng gỗ như vẫn còn nằm trên tay tôi đến hôm nay…”

Thời trẻ, Wright học phổ thông ở Madison – Richland Center. Năm 1886 bắt đầu con đường học hành tại Đại học Wisconsin, theo các khóa học bán thời gian trong 2 học kỳ, làm việc với giáo sư kỹ thuật dân dụng Allan D. Conover. Một năm sau Frank Lloyd Wright rời trường, đến Chicago tìm việc làm. Bấy giờ công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng tràn ngập thành phố này. Vài ngày sau, ông xin vào làm ở Công ty Kiến trúc của Joseph Lyman Silsbee. Ấn tượng đầu tiên của Wright về Chicago là những khu nhà đầy bụi, cáu bẩn, những con đường đông nghẹt – Một bức tranh kiến trúc đáng thất vọng. Ông chủ Silsbee là người khăng khăng bám vào nghệ thuật Phục hưng và phong cách Victoria, trong khi Wright lại muốn tác phẩm của mình “duyên dáng như tranh vẽ”. Nuôi chí mở mang kiến trúc hiện đại cho nước Mỹ, và xa hơn, đem kiến trúc ấy trao tặng thế giới, Wright không thể “an phận” theo “gu” của chủ hãng. Công trình đầu tay – Avery Coonley, nhà ở tư nhân lớn nhất của Wright được Mỹ thừa nhận. Năm 1970, Avery Coonley được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Làm ở hãng Silsbee được gần 1 năm, biết Công ty Adler & Sullivan đang cần một người “có thể hoàn thành các bản vẽ nội thất của một tòa giảng đường”, sau 2 buổi phỏng vấn ngắn, Wright được tiếp nhận với tư cách tập sự. Ông đã cho họ thấy khả năng gây ấn tượng nội thất ngay giữa kiến trúc của Louis Sullivan. Ở Chicago, Wright đã lưỡng lự khi tiếp xúc với các bậc thầy, đặc biệt là với Louis Sullivan, Ông đã nghe, nhìn, thấu hiểu những tìm kiếm lớn lao của các bậc thầy, mặc dù họ nghi ngờ, thậm chí giễu cợt ông… Với sự nhẫn nại cô đơn, hết tác phẩm này sang tác phẩm khác, Wright phát hiện ra sự tương thích giữa công năng và hình thức kiến trúc. Quan trọng là từ đó hoàn toàn có thể tổ chức cho kiến trúc một không gian nhất thể. Để làm được điều đó ông đã mạnh dạn sử dụng bê tông cốt thép, thép hình, kính, tận dụng những ưu việt của chúng trong điều kiện nhân văn, địa lý phù hợp. Không chỉ thận trọng khi tìm hiểu kiến trúc của Sullivan, Wright còn nhìn trước nhìn sau những tác phẩm kiến trúc phong cách Quốc tế tiền kỳ của các đồng nghiệp Mỹ: William Van Alen, R Hud, Reinhardt, Hofmeister, Korbetty, Harrison, Mah Meri, Fulliuson…Mối quan hệ thầy trò giữa Louis Sullivan và Frank Lloyd Wright bị phá vỡ năm 1893, khi Sullivan sa thải Wright, sau khi biết Wright đã lén làm việc cá nhân, ảnh hưởng tới công việc của Công ty Adler. Có thể nói nghệ thuật của Frank Lloyd Wright được người Mỹ cảm tình nhất – Song, đối với công chúng nước ngoài, nhất là giới nghề châu Âu thì ảnh hưởng của phong cách Quốc tế (khởi phát từ Mỹ) lại có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn do bao trùm công nghiệp hóa xây dựng, lại thỏa mãn tối đa phát triển kinh tế thế giới trước và sau Đại chiến Thế giới II. Kiến trúc hữu cơ của Wright cho thấy: Môi trường đón nhận nó như đón nhận một đồng loại.

Nói kiến trúc của Wright thuần túy hòa nhập vào thiên nhiên là hạ thấp nghệ thuật của ông. Vì, chính nghệ thuật ấy đã khiến tự nhiên bị lôi cuốn vào kiến trúc chứ không phải kiến trúc đón nhận nó với thái độ kẻ cả châm chước. Những luận điểm chính của Frank Lloyd Wright được trình bày trong bài phát biểu “The Art and Craft of the Machine” (1901) đã có ảnh hưởng đáng kể đối với phong trào nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ ở nước Mỹ ngày bấy giờ. Wright không chỉ là tác giả của 20 quyền sách và rất nhiều bài báo mà còn là GS đại học nổi tiếng ở Mỹ và châu Âu thời đó. Wright yêu thích những hình khối vuông, chữ nhật, tam giác, lục giác, hình tròn, cung tròn, oval, xoắn ốc có nguồn gốc tự nhiên. Chúng xuất hiện nhiều trong các công trình của ông với sự kết hợp tài tình, từ những khối hình cứng nhắc, những họa tiết Art Deco trong ngoài nhà…hiện ra một nhất thể hoàn hảo như chính nó là một sinh thể sống đang sinh sôi nảy nở. Wright luôn tìm kiếm sự thống nhất hữu cơ, trong khi các nghệ sĩ Âu Mỹ khác lại tín nhiệm Gesamtkunstwerk. Ông cho rằng cấu trúc công trình phải dựa trên sự hài hòa giữa con người và môi trường. Thế nhưng tuyệt nhiên Wright không phải là nô lệ của thiên nhiên. ông cho rằng kiến trúc là thứ biết nói và những gì nó nói ra phải “đồng thuận với những quy luật cơ bản…”. Lý lẽ của ông hoàn toàn không cứng nhắc, mà rất uyển chuyển: Đành rằng không nên rơi vào sao chép mù quáng quá khứ, nhưng cái khó là làm sao không phản lại hiện thực trong tác phẩm của những bậc thầy.

Tác phẩm của Wright bao gồm các ví dụ cách tân: Nhà cao tầng, công sở, trường học, nhà thờ, nhà cao tầng, khách sạn, bảo tàng. Frank Lloyd Wright thường trực tiếp vẽ nội thất cho các tòa nhà của ông, kể cả đồ gia dụng, kính màu… Triết lý kiến trúc với thiên nhiên được Wright minh họa bởi hầu hết các tác phẩm: Unity Temple (Oak Park, Illinois, 1905); Robie Hause (Chicago, 1908); Usonian là một lựa chọn tuyệt vời cho các gia đình trung lưu; Kiểu nhà ở Prairie, Nhà tháp Praice (Pennsylvania, 1916), Ennis hause (Los Angeles, California, 1923), Barhsidall hause (Los Angeles, 1916 – 1921), Khách sạn Hoàng gia (ToKyo, khởi công 1923), Nhà Quốc hội Nhật Bản (Tokyo, 1923 – 1927), An dưỡng đường Loyola (Los Angeles, 1927 – 1929), Biệt thự Kaufman (thường gọi là Nhà trên Thác nước – Pennsylvania, 1936). Tòa nhà Telesin – Vest (Arizona, 1936), Midway Gardens (Arizona, 1937), Trụ sở Cty Dược phẩm Johnson & Johnson (Wisconsin, 1939), Tòa nhà Barnsdall House, òa nhà ở Minneapolis, Tòa nhà với bờ dốc hình xoắn ốc (Phoenix, Arizona, 1951), Dorothy G. Turkel House, Bảo tàng Guggenheim (New York, 1956 – 1959)… Frank Lloyd Wright còn là người dẫn đầu Trường phái Prairie* và phát triển khái niệm nhà ở kiểu dáng nhà ở Usonian** trong tầm nhìn của ông về những thành phố của nước Mỹ.

Wright đam mê nghệ thuật Nhật Bản. Do là từ 1917 – 1923, ông sang Tokyo để thực hiện Dự án Nhà Quốc hội Nhật Bản và Khách sạn Hoàng gia. Đó là hai công trình dự báo con đường sẽ kinh qua của kiến trúc hiện đại Nhật Bản. Nói thêm, năm 2016 – 2017, Khách sạn Hoàng gia Tokyo đã bị triệt giải, lấy đất để xây nhà mới – Thật tiếc: Một “mắt xích” của lịch sử kiến trúc hiện đại Tokyo đã bị đứt. Hồi ở Tokyo, Wright đã mua một số lượng lớn những bản in Tranh phù thế (Ukiyo- e)*** mà ông sở hữu gần 6.000 bản. Trở về Mỹ, ông đã bán những bản in hoa điểu, núi Phú Sĩ, phong cảnh Nhật Bản và quả quyết rằng đó là những họa phẩm nội thất tối giản, khá phù hợp cho thiết kế kiến trúc. Thời kỳ suy thoái 1929 – 1930, Wright kiếm được nhiều tiền từ việc bán tranh Ukiyo-e hơn là hành nghề kiến trúc. Chính ông là người thu hút công chúng Mỹ dành quan tâm hứng thú đến nghệ thuật Phù thế hội (Ukiyo-e). Các bức Ukiyo-e còn lại trong bộ sưu tập của ông hiện được trưng bày tại Art Institute. Từ cuối thập niên 1930, Wright nghĩ đến việc xây những căn hộ dành cho gia đình trung lưu mà ông gọi là “Usonian”, loại nhà trệt đại diện cho lý tưởng dân chủ Mỹ. Nó được thiết kế nhằm hạn chế chi phí, do đó không có gác xép, tầng hầm hay ô văng, nhà được làm mát tự nhiên, thiết bị sưởi ấm dùng năng lượng mặt trời. Mỗi thị trấn thường có khoảng 60 căn Usonian mơ ước của các gia đình trung lưu.

Wright cho rằng New York đông nghẹt người và quá chật chội, nghèo nàn về văn hóa, nhất là quy hoạch tồi tệ. Ông viết: “Nhìn vào quy hoạch của một thành phố kếch xù khác nào nhìn vào mặt cắt của khối u xơ”. Wright mô tả New York gây ám ảnh giống như một ký sinh trùng ăn mòn tinh thần con người. Ông muốn cư dân New York tỉnh ngộ trước Bảo tàng Guggenheim của mình. Frank Lloyd Wright đã tìm mọi cách chứng minh: Kiến trúc thực sự là “Thiên nhiên vật chất và tình cảm” con người – Một thứ thiên nhiên “nhỏ” trong lòng Mẹ Thiên nhiên “lớn”. Ông đã tìm ra cái tự nhiên thuần khiết và bằng diễn họa kiến trúc tuyệt vời biểu hiện tự nhiên trong mọi vật thể, phong cảnh, vật liệu mà ông sử dụng. Ông khẳng định:“Bác sĩ có thể chôn cất những sai lầm của mình, nhưng KTS chỉ được phép tư vấn khách hàng trồng mấy cây dây leo”.

Hết nỗ lực này đến nỗ lực khác, không vội vã, Wright đã hoàn thành sự nghiệp kiến trúc vô cùng to lớn, hướng về “Một nền kiến trúc vĩ đại – Bằng chứng hùng vĩ nhất của nhân loại vĩ đại”. KTS Frank Lloyd Wright đã thử nghiệm nhiều cách khác nhau để khai thác lợi thế sản xuất công nghiệp để thiết kế nhà ở có chất lượng. Ông cho rằng: Nền giáo dục Mỹ vẫn chưa tạo được mối liên hệ giữa “Khoa học và Nghệ thuật”, vẫn chưa áp dụng các chương trình giảng dạy về “nghiên cứu tự nhiên”. Tuy nhiên, lúc bấy giờ ở Mỹ cũng đã thúc đẩy đào tạo thực hành đi đôi với theo đuổi trí tuệ. Cuối cùng ông đã gắng liên kết giáo dục – máy móc – kiến trúc và dân chủ, khi ông thành lập Học bổng Taliesin những năm 1930.

Dấu ấn kiến trúc của Wright còn lại nhiều, chủ yếu ở Mỹ gồm nhà ở, công trình thương mại, nhà thờ, bảo tàng, lăng mộ với những công trình nổi bật nhất ở Los Angeles. Một số cao ốc của Wright vẫn còn đến ngày nay và nổi tiếng vì khó bảo trì và sửa chữa. Các tòa nhà Johnson, Wingspreads, Fallingwater đều có vấn đề: Rò rỉ mái, khung cửa quá nhỏ để có thể chuyển đồ… Thế nhưng, Wright thờ ơ với những lời phàn nàn, nại ra rằng đó là một vài thiếu sót khó tránh. Có điều lý thú, người đầu tiên khám phá ra những cơ sở khoa học hữu cơ trong các công trình kiến trúc của Wright lại là KTS Bruno Zevi, người Ý. Trong suốt cuộc đời, Wright đã thiết kế 1.114 tòa nhà, nhưng chỉ 532 tác phẩm trong số đó được hoàn thành. Một số đã bị phá hủy nhưng hơn 400 tòa nhà do Wright thiết kế vẫn đứng vững. Trong số khoảng 2.500 công trình nổi tiếng của Mỹ, có 28 tòa nhà do Wright thiết kế. Do một vài nguyên nhân, Wright căm ghét đô thị nhưng ông không hề đi tìm con đường cải tạo nó như nhiều KTS khác đã làm. Cũng chính vào năm 1959, năm Bảo tàng Guggenheim hoàn thành – Frank Lloyd Wright mất tại trang trại của ông ở Taliesin West, Arizona.

Nhà Cá ven sông (1) – Riverside fish house. Ngôi làng Riverside, được thành lập vào năm 1869 với tư cách là cộng đồng được quy hoạch đầu tiên của quốc gia, được thiết kế bởi KTS cảnh quan Frederick Law Olmsted – Nhà thiết kế của cả Công viên Trung tâm ở Thành phố New York và Công viên Jackson (Khu hội chợ của Triển lãm Chicago Columbian năm 1893). Nhà Cá ven sông là công trình hoàn thành ở Ohio do Wright ủy quyền. Nhìn từ trên xuống, ngôi nhà có hình dạng giống một con cá, phù hợp với vị trí gần Sông Des Plaines và được xây dựng trên một thác nước gần một con sông ở Pennsylvania. Thiết kế của nó xoay quanh ý tưởng “kiến trúc hữu cơ”, hòa quyện tòa nhà với môi trường thiên nhiên xung quanh. Những con đường Riverside lộng gió đan xen nhau tạo thành những hòn đảo nhỏ nhà cửa và không gian xanh; hoàn toàn trái ngược với mạng lưới đường xá nghiêm ngặt của Chicago gần đó.

Tòa nhà Larkin (2) – Larkin Haus (Buffalo, New York. 1905 – Đã bị phá hủy năm 1950). Số phận ngắn ngủi của nó không phải là tiêu chuẩn đánh giá tầm quan trọng vô biên của nó: Đó là khối nhà văn phòng thật sự hiện đại đầu tiên, một tòa nhà được thiết kế bên trong và bên ngoài để phù hợp với mục đích và công năng theo một cách thức gần với khoa học. Nó cũng là văn phòng được điều hòa không khí và xây dựng quanh một đại sảnh trung tâm đầu tiên. Anh em nhà Larkin ít nhiều gì cũng đã phát minh lối mua bán qua đường bưu điện; họ cần một đội ngũ thư ký được huấn luyện kỹ, siêng năng để giải quyết theo trình tự một lượng khổng lồ đơn đặt hàng phức tạp. Ngồi theo hàng sát rạt trước những bàn giấy được Frank Lloyd Wright vẽ kiểu cho họ, về vài phương diện các nhân viên văn phòng đầu tiên này là “nạn nhân” không hơn không kém của cuộc cách mạng trong tư duy tổ chức theo TS Frederick Taylor (1856 – 1915), cha đẻ của trường phái Quản lý khoa học lao động dẫn tới các kỹ thuật sản xuất hàng loạt của Henry Ford sự nghiên cứu thao tác (và thời gian) và sự tẻ ngắt suốt đời của nhân viên văn phòng của thế kỷ 20. Dầu những hạn chế và tính chất vô nhân trong những điều Taylor tìm tòi được, trong doanh số tăng nhanh của Larkin, hay trong đồ án của Wright, có là gì đi nữa, ngày nay tòa nhà Larkin vẫn có tính cấp tiến như hồi 1905, khi chỉ 5 phần trăm dân số Mỹ cặm cụi làm việc trong các văn phòng so với hơn 50 phần trăm vào cuối thế kỷ.
Ngôi nhà Avery Coonley (3) – Avery Coonley house (1908 – 1912) là khu dân cư gồm một số tòa nhà được xây dựng trên bờ sông Des Plaines ở Riverside, Illinois, ngoại ô Chicago. Bản thân nó là một Di tích lịch sử quốc gia và được bao gồm trong một Di tích lịch sử quốc gia khác, Khu lịch sử ven sông. Ngôi nhà Avery Coonley (xây dựng 1908 – 1912) ở Riverside, Illinois, nằm trên một bán đảo nhỏ độc đáo được bao quanh bởi Sông Des Plaines. Trong số ít bất động sản mà Frank Lloyd Wright đã phát triển, đây là một trong những ngôi nhà lớn nhất và công phu nhất của Trường Prairie mà ông từng xây dựng. Đây là một trong ba khu phức hợp thảo nguyên gồm nhiều tòa nhà được xây dựng bởi những KTS nổi tiếng. Hai khu còn lại là khu phức hợp Dana-Thomas House và Darwin D. Martin House.

Ngôi nhà Coonley cũng là ví dụ đầu tiên trong công trình quy hoạch vùng của Wright. Tầng hai nâng cao bao gồm ba khu vực: Khu vực chung (phòng khách và phòng ăn), khu vực phòng ngủ (có khu vực dành cho khách) và cuối cùng là khu vực nhà bếp và người giúp việc. Nơi ở ban đầu rộng hơn 9000 feet vuông và được xây dựng trên một khu đất rộng 10 mẫu Anh. Sảnh vào, phòng chơi và phòng may nằm ở tầng trệt. Toàn bộ khu phức hợp gồm các tòa nhà có liên quan với nhau với những khu vườn rộng lớn được nâng lên và chìm xuống được thiết kế bởi kiến trúc sư cảnh quan Jens Jensen. Cấu trúc chính của Avery Coonley Estate là cánh phòng khách công cộng, nằm trên Đường Blooming Bank và phía sau đối diện với Đường Scotswood là cánh phòng ngủ của dinh thự. Khu phức hợp còn bao gồm một ngôi nhà dành cho xe ngựa ổn định riêng biệt và ngôi nhà dành cho người làm vườn (1911). Cùng với Robie House, Coonley Estate đại diện cho sự trưởng thành của Phong cách Prairie của Wright, đặc trưng bởi mái hiên rộng nhô ra, dải cửa sổ kính nghệ thuật, không gian nội thất tự do và sự pha trộn hài hòa giữa địa điểm và cấu trúc.

Avery Coonley, một nhà công nghiệp ở Chicago và vợ ông, Queen Ferry của Công ty Hạt giống có trụ sở tại Detroit, đều là những người thừa kế tài sản công nghiệp và có ngân sách không giới hạn để xây dựng một dinh thự mới. Gia đình Coonley đã điều tra những ngôi nhà khác của Wright và nói với anh rằng họ nhìn thấy trong tác phẩm của anh “vẻ mặt nguyên tắc”. Wright đã nói trong cuốn tự truyện của mình rằng: “Đối với tôi đây là một lời khen chân thành và tuyệt vời. Vì vậy, tôi đã nỗ lực hết mình cho Coonley House”. Wright coi Ngôi nhà Coonley là một trong những công trình đẹp nhất của mình và đã thiết kế cho Coonley một nơi cư trú hòa quyện trong nhà và ngoài trời, mang lại cảm giác giống như một ngôi làng nhỏ, dựa trên cách các sân, tòa nhà và bức tường vườn được kết nối với nhau. Ông đã thiết kế tất cả các tính năng kiến trúc và đồ nội thất trong nhà, bao gồm cả thảm và các sản phẩm dệt…

Ngôi nhà Robie (4) – Robie house (1910) đưa chúng ta vào một cuộc cách mạng trong lĩnh vực thiết kế nhà ở. Tính cách phô trương và chứng tự kỷ của Wright được khắc họa rất khéo trong tiểu thuyết The Fountainhead (“Suối nguồn”) của Ayn Rand lẫn trong cuốn phim cùng tên của Hollywood có Gary Cooper đóng vai nhân vật chính là nhà kiến trúc bị hiểu lầm. Dù tọa lạc tại Chicago, ngôi nhà mà Wright xây dựng cho Frederick C. Robie có chung tinh thần của loạt nhà “Đồng cỏ” cuối cùng và đẹp nhất do Wright vẽ cho vùng đồng quê Illinois từ năm 1894.

Được chính Wright mô tả trong một số Tạp chí gia đình dành cho phụ nữ (Ladies Home Journal), Nhà Đồng cỏ có đặc điểm là mái chìa rộng và sâu, bình đồ được chú trọng nhiều và được tổ chức tự do xung quanh một bếp lửa trung tâm. Những ngôi nhà xinh xắn, xây dựng kỹ, phóng khoáng lẫn tiện dụng. Ngôi nhà Robie là một trong những ngôi nhà đầu tiên cố chỗ để xe trong nhà và về phương diện này nó đã báo hiệu một kỷ nguyên mới. Dù bị những ngôi nhà cất sau che khuất, nó vẫn nổi bật. Mái nhà treo cao, được bốn cây xà thép dài 30 mét chống đỡ làm chúng ta nhớ tới một đền thờ Nhật cổ kính nào đó soi bóng qua lăng kính của Chicago đầu thế kỷ 20. Dù rất hoàn chỉnh theo kiểu lưu loát tự do và gần như được tổ chức hợp lý theo phong trào Nghệ thuật và Thủ công, Ngôi nhà Robie của Wright cũng biểu thị những công nghệ mới mà Chicago có thể cống hiến vào năm 1910.

Ngôi nhà Storer (5) – Stoker House (Los Angeless – 1912) dùng kết cấu bê tông không tô, Wright sử dụng những khối bê tông ở đây có tính trang trí cao và được thiết kế để cho tòa nhà có hơi hướng ngoại lai Mexico. Wright không bao giờ làm nô lệ cho một vật liệu hay phong cách nào: Ông chiết trung về hình thức, nhưng các công trình của ông có khuynh hướng lấy cảm hứng từ khung cảnh xung quanh và bám rễ chặt vào đó – Dù có tính chất sáng tạo thế nào đi nữa, chúng vẫn có vẻ ở đúng chỗ. Wright là một trong những nhà kiến trúc có ảnh hưởng nhất thế kỷ và những mối quan tâm của ông – Sự gắn bó với thiên nhiên, sự dẫn ánh sáng mặt trời, tính mở rộng và cảm thức tự do – cũng là mối quan tâm của các KTS khi họ bước vào thế kỷ 21 sau hai thập niên của Chủ nghĩa Hậu Hiện đại ngang ngạnh và lối thiết kế tự do dở ẹc hồi cuối thập niên 1990.

Khách sạn Imperial (6) – Imperial Hotel Tokyo (Nhật Bản, 1923) – Là khách sạn kiểu Âu đầu tiên ở Nhật Bản, ban đầu dành phục vụ du khách nước ngoài, mở cửa năm 1890 nhưng không may bị cháy rụi trong trận hỏa hoạn 1922. Khách sạn do Frank Lloyd Wright thiết kế theo phong cách Maya hoa lệ. Nó từng là nơi tiếp đón hoàng gia, nguyên thủ quốc gia, những người nổi tiếng và nhà văn, và là một điểm đến sang trọng và quý phái theo đúng nghĩa của nó. Khách sạn Hoàng gia Tokyo nổi tiếng vì đã chịu được trận động đất Kanto lớn vào chính năm nó được khai trương. Tiếc thay, do áp lực phát triển, khách sạn đã bị phá bỏ vào năm 1968, và Khách sạn Imperial thứ ba, một tòa tháp cao tầng được xây dựng 17 năm sau đó, năm 1985. Rất may, tiền sảnh và lối vào ban đầu của Frank Lloyd Wright được phục chế trưng bày tại Bảo tàng Meiji Mura ở Thành phố Inuyama, tỉnh Aichi, Nhật Bản.

Nhà thác nước (7) – Fallingwater (Bear Run, Quận Fayette, Pennsylvania – 1936). Là một ngôi nhà nghỉ cuối tuần, được đặt chênh vênh trên một ngọn thác nhỏ của suối Bear Run. Nhà có ba tầng, tầng một đặt gần mặt nước, gồm có phòng sinh hoạt chung, phòng ăn, bếp. Tầng hai và tầng ba đặt các phòng ngủ. Toàn bộ công trình gây được ấn tượng tương phản rất mãnh liệt, do những khối bằng đá hoặc bê tông đan chéo nhau vươn trên mặt thác. Bút pháp của tác giả vừa thận trọng, vừa phóng khoáng khi xử lý các hiên lớn, cầu thang lên các tầng hoặc xuống mặt nước, bể bơi nhỏ cạnh nhà, hay khi chọn lọc vật liệu cho các thành phần kiến trúc (chỗ bằng đá thô, nhám, chỗ bằng bê tông phẳng và trơn). Ở biệt thự Kaufman, dụng ý kết hợp kiến trúc, với thiên nhiên của Frank Lloyd Wright đã thành công khi ông đưa vào nội thất toà nhà được cả cảnh rừng, tiếng suối bóng cây và đem những hình khối kiến trúc kết hợp hài hoà vào thiên nhiên hùng vĩ. Không ít người mệnh danh đây là “Công trình vĩ đại nhất mọi thời đại của kiến trúc Mỹ”. Thế nhưng, ngay trong bữa tiệc mừng nhà mới, chủ nhân biệt thự Kaufman gọi điện cho Wright, phàn nàn nước từ mái nhà bị rò, nhỏ giọt xuống đầu. Wright đáp lại hài hước: “Này ngài Johnson, ngài chỉ việc dịch ghế ngồi sang sang chỗ khác là ổn”. Đây đúng là Frank Lloyd Wright bí ẩn, chiết trung và trường thọ trong điều kiện tốt đẹp nhất. Thác nước không bao giờ làm du khách hết bất ngờ và thán phục sau chặng đường qua rừng cây dày đặc của vùng nông thôn Pennsylvania. Công trình được thiết kế làm nơi ẩn cư lãng mạn cho Nhà xuất bản Edgar Kaufmann. Tìm được nơi này, một thác nước gầm thét trên những khối đá mòn nhấn, Wright đã “neo” ngôi nhà càng gần thác nước càng tốt. Thật vậy, ngôi nhà là một loạt những cái khay lớn nằm ngang, xoay quanh và được giữ vững bằng một tháp trung tâm vừa là một ống khói. Vì vậy, dù Wright nói rằng mặt cắt của tòa nhà được chọn theo một đền thờ cổ của người Maya, thác nước cũng giống một cái lều lớn được thực hiện bằng bê tông, gỗ, thép, và kính, thay vì bằng vải bố hay da trâu. Tòa nhà này là một nỗ lực lớn của Wright: Ta thấy bàn tay quyết định của nhà kiến trúc ở khắp, trong mỗi chi tiết nhỏ. Và thế mà, thay vì cầu kỳ, tòa nhà có tính giải phóng. Wright đã xoay xở như thế nào? – Có lẽ vì từ bất cứ chỗ nào trong nhà cũng có thể nhìn thấy những hình ảnh bất ngờ của công trình xây dựng cũng như phong cảnh nguyên sơ. Đây là một trong những ngôi nhà được chụp hình và nổi tiếng nhất trên thế giới và nó xứng đáng được như vậy. Nó ở tình trạng hoàn hảo nhất, không kể mùa, khi bạn có thể sở hữu vị trí này gần như cho riêng bạn, nếu không hoàn toàn, bóng ma của Frank Lloyd Wright lúc nào cũng nhìn qua vai bạn.

Sau biệt thự Nhà thác nước, Frank Lloyd Wright xây dựng (8) – Nhà hành chính hãng Johnson (Johnson Wax Headquarters. Racine, tiểu bang Wisconsin, mở cửa năm 1939, Có sự cộng tác của KTS William Wesley Peters). Riêng Tháp Nghiên cứu khoa học hoàn thành năm 1950. Trụ sở ban đầu bao gồm hai tòa nhà do Frank Lloyd Wright thiết kế: Tòa nhà Hành chính và Tháp nghiên cứu, được tạo thành bởi những khối lập phương và những khối tròn, những bố cục xen kẽ, cao thấp, trước sau rất phức tạp, khác hẳn với những hình khối thuần khiết của Le Corbusier.

Không gian bên trong Nhà hành chính hãng Johnson được tạo thành bởi những bức tường kín và các cột tròn thanh mảnh đỡ các tấm mái, trông như những luống hoa gắn với nhau bởi các thanh giằng. Phần trên mái còn lại của nhà lợp kính lấy ánh sáng trời trực tiếp. Nhà thí nghiệm được bố trí trong cùng một quần thể cùng với nhà hành chính do Wright xây dựng trước chiến tranh. Nhà thí nghiệm được thiết kế như một nhà tháp nhiều tầng, lõi là một hộp cứng lồng cầu thang. Thang máy, khối vệ sinh và đường ống kỹ thuật chạy suốt từ từ tầng trên cùng xuống tầng hầm dưới lòng đất. Từ lõi này, vươn ra những sàn công – Xôn của các tầng dùng làm phòng thí nghiệm. Mặt đứng xử lý rất tự do bằng kính lớn chạy suốt hai tầng nhà một, làm cho không gian tràn ngập ánh sáng, nhưng sự hợp lý về kết cấu cũng như điều kiện kinh tế dã bị tác giả hầu như lãng quên.

Nhà tháp Prais (9) – Prais Tower (1952 – 1956). Tòa nhà chọc trời mười chín tầng, cao 67m, tọa lạc tại số 510 Đại lộ South Dewey ở Bartlesville, Oklahoma, Hoa Kỳ. Là một trong số ít công trình cao tầng do Frank Lloyd Wright thiết kế, Tháp Price được xây dựng dựa trên đề xuất năm 1929 về một cụm chung cư tại Thành phố New York. Harold C. Price Sr., người đứng đầu công ty xây dựng đường ống HC Price Company đã ủy quyền xây dựng tòa tháp. Mặt bằng Prais Tower có dạng hình vuông, bị chia ra làm bốn phần bởi hai bức tường cắt chéo nhau theo hình chữ thập trong đó một phần để làm phòng ở và ba phần để làm không gian làm việc. Hình dáng mặt bằng các phòng đều rất phức tạp, không theo một quy tắc nào cả. Giếng đứng ở khu vực giữa nhà để các phương tiện phục vụ, đường ống và các thang máy chuyên dụng. Mặt đứng phần nhà làm việc được giải quyết theo phân vị ngang, trong khi bộ phận ở được xử lý bằng phân vị đứng. Tòa nhà được tô điểm bằng cửa sổ bách diệp đồng xanh bền vững để có thể chống lại gió bão của vùng thảo nguyên xung quanh rộng tới 800 dặm vuông.

Tháp Price có khoảng 3.900m2 diện tích cho thuê, được chia thành một khu dân cư và ba khu văn phòng. Mặt bằng được bố trí theo dạng lưới các hình bình hành với các hình tam giác 30-60-90, được sắp xếp xung quanh lõi kết cấu hình chong chóng có bốn trụ. Mặt tiền bao gồm các thanh ngang và cửa chớp bằng đồng nổi, cửa sổ kính màu và bề mặt vữa đổ. Các sàn bê tông cốt thép được nhô ra ngoài từ lõi kết cấu. Ban đầu, các khu dân cư và văn phòng của tòa nhà được tiếp cận bằng các sảnh và thang máy khác nhau. Ba tầng trên cùng ban đầu được sử dụng làm căn hộ áp mái và văn phòng cho gia đình Price. Mặc dù bên ngoài vẫn còn nguyên vẹn qua nhiều năm, nhưng sau đó các căn hộ đã được chuyển đổi thành văn phòng.

Bảo tàng Solomon R. Guggenheim (10) – Solomon R. Guggenheim Museum (New Yorrk – Hoàn thành năm 1959). Nói một cách đơn giản nhất thì Viện bảo tàng Guggenheim là một trong những công trình xây dựng nổi tiếng nhất thế giới. Hành lang xoáy ốc ngoằn ngoèo, xoay tròn, uốn khúc như cảnh tượng trên sao Hỏa của Frank Lloyd Wright là một cảnh “điên cuồng kỳ diệu”, ngọt lịm say mê. Khối triển lãm của bảo tàng là một khối tròn như hình cái nấm ngược cao tương đương với tám, chín tầng nhà. Sau khi khách được thang máy đưa lên tầng trên cùng, không gian kiến trúc mở ra trước mắt họ dưới dạng một hành lang hình xoắn ốc từ trên cao xuống với tầng trống ở giữa. Frank Lloyd Wright đã nhào nặn bê tông cốt thép theo những đường lượn tuỳ ý, trên to dưới nhỏ. Nhiều người vẫn còn thấy đó là một trò đùa bất nhã: Một cái dốc xoáy ốc buộc người xem triển lãm chăm chú nhìn tranh ảnh trong khi đứng ở một góc độ làm người ta cảm thấy một chân ngắn hơn chân kia. Người ta hình dung các nghệ sĩ siêu thực hẳn phải thích chuyện đó.

Viện bảo tàng Solomon R.Guggenheim kể ra không cao lắm, nhưng người ta không thể không chú ý đến nó: Biến dạng giống hộp đựng thuốc nhô ra Đại lộ thứ Năm và lôi kéo khách tham quan vào nội thất ngoạn mục của nó. Nội thất ấy không hơn gì một cái trống khổng lồ, ngả dần ra ngoài khi lên cao, chạy quanh một đường dốc xoáy ốc. Mái là một vòm cạn bằng kính. Khách tham quan được khuyến khích đi thang máy lên tới nóc viện bảo tàng rồi chậm rãi đi bộ xuống. Wright đã đùa giỡn với các đồ án xoáy ốc từ giữa thập niên 1920 và bắt đầu thiết kế Guggenheim ngay từ năm 1943. Nhiều lần trì hoãn, một phần do Thế chiến II, đã làm chậm tiến độ xây dựng. Cuối cùng bảo tàng mở cửa trong năm Wright qua đời (1959). Quan trọng là ngay từ đầu, Frank Lloyd Wright vĩ đại đã đặt Bảo tàng Guggenheim tại New York với tâm nguyện muốn thay đổi thành phố này. Quả thật, ông đã đúng!

KTS Đoàn Khắc Tình
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 12-2025)


Ghi chú:
* Prairie School (Trường phái Prairie). Một trào lưu kiến trúc cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, phổ biến nhất ở vùng Trung Tây Hoa Kỳ. Công trình kiến trúc Prairie thường được đánh dấu bằng các đường ngang, mái bằng hoặc mái dốc với mái hiên rộng nhô ra, cửa sổ được nhóm lại thành các dải băng ngang.
** Usonian houses (Nhà kiểu dáng Usonian). Một loại nhà ở hiện đại, giá cả phải chăng do Frank Lloyd Wright thiết kế dành cho tầng lớp trung lưu Mỹ. Usonian houses nhấn mạnh sự hòa nhập hữu cơ với thiên nhiên.
Triết lý hữu cơ của Wright có phần được khơi nguồn từ sự ngưỡng mộ chủ nghĩa Nhật Bản của ông. Thuật ngữ này dùng để chỉ một phong cách thiết kế mà ở đó người KTS cố gắng tìm ra sự cân bằng hoàn hảo giữa con người, thiên nhiên trong thiết kế xây dựng. Tự nhiên sâu sắc hơn thị hiếu rất nhiều, Wright đã tiến rất xa khi ông lên án sự sáo rỗng của những công trình tiếng tăm và ông tuyên bố là chúng sẽ không có vị trí trong việc tìm kiếm những giá trị kiến trúc chân chính. Mỹ học của Wright là sự hài hoà kiến trúc – thiên nhiên: Cấu trúc xuất hiện giống như nó vươn lên từ đất lên chứ không phải do con người kiến tạo. Bằng cấp duy nhất mà Wright có lại là bằng Tiến sĩ danh dự Mỹ học – Đại học Wisconsin.
**** Phù thế hội (Ukiyo-e, 浮世絵). Thuật ngữ hội họa Nhật Bản, can hệ đến thành ngữ đạo Phật “Ưu khổ thế” (tiếng Trung: 憂苦世, tiếng Nhật: 憂き世), với nghĩa “Thế giới của những khổ đau phiền muộn”; cũng có thể hiểu là “Thế giới phù du”, “Thế giới hư ảo”. Từ thế kỷ 17, Edo trở thành trụ sở của chính quyền độc tài quân sự Nhật Bản; giới thương gia, vốn là tầng lớp dưới đáy xã hội, bỗng được hưởng lợi nhiều nhất nhờ đất nước tăng trưởng kinh tế. Sẵn tiền bạc họ vung vào Nhà hát Ca vũ kịch Kabuki, tha hồ đắm say hưởng lạc kỹ nữ lầu xanh, geisha hạng sang.



Nguồn