Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, hiện quy mô của mặt hàng tôm hùm chiếm gần 25% tổng xuất khẩu tôm và tương đương 10,1% tổng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Tôm hùm Việt Nam có thể trở thành ngành hàng tỉ USD
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đạt khoảng 858 triệu USD, tăng mạnh so với các năm trước. Điều này cho thấy tiềm năng và cơ hội lớn để tôm hùm trở thành một ngành hàng tỉ USD, sản phẩm chiến lược của Việt Nam.
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ chính sản phẩm tôm hùm của Việt Nam. Năm 2025, xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc đạt khoảng 841 triệu USD, chiếm hơn 98% tổng kim ngạch.
Ở chiều ngược lại, năm 2025, Trung Quốc nhập khoảng 69.800 tấn tôm hùm; trong đó Việt Nam cung cấp khoảng 24.100 tấn và chiếm thị phần 34,5%, trở thành nguồn cung lớn nhất.
Các doanh nghiệp Việt Nam đã khai thác tối đa lợi thế về vị trí địa lý, thuận lợi trong quá trình vận chuyển hàng sống, thời gian giao hàng ngắn, chi phí logistics cạnh tranh, sản phẩm phù hợp với phân khúc nhà hàng tầm trung – cao cấp. Ở chiều ngược lại, biến động thương mại và thuế quan khiến các nguồn cung như: Canada, Mỹ, Úc gặp nhiều khó khăn tại thị trường 1,4 tỉ dân này.
VASEP nhận định: Tôm hùm Việt Nam cần được tiếp cận như một ngành hàng thủy sản giá trị cao, có chiến lược phát triển riêng, thay vì chỉ là một nhóm sản phẩm tăng trưởng ngắn hạn. Có 4 nhóm giải pháp nổi bật cần được quan tâm xúc tiến đầu tư gồm:
Thứ nhất là định hướng đưa tôm hùm thành ngành hàng chiến lược, hướng tới kim ngạch tỉ USD. Điều này cần được gắn với quy hoạch vùng nuôi, hạ tầng logistics hàng sống, cơ sở đóng gói, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Thứ hai, cần ưu tiên làm việc với Trung Quốc để tháo gỡ rào cản cho tôm hùm bông, làm rõ yêu cầu con giống F2, cơ sở khoa học, hồ sơ nguồn gốc và khả năng xây dựng cơ chế quá độ có kiểm soát cho sản phẩm thương phẩm được nuôi tại vùng nuôi có mã số.
Thứ ba, cần hướng dẫn người nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường về mã số trang trại, mã số cơ sở đóng gói (chế biến), nhật ký nuôi, kiểm soát giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, dư lượng, kiểm dịch, an toàn thực phẩm và hồ sơ lô hàng.
Thứ tư, cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường và cảnh báo sớm chuyên biệt cho tôm hùm, bao gồm thay đổi quy định nhập khẩu, tình hình cửa khẩu, thuế quan, nhu cầu mùa vụ, giá, cạnh tranh từ Canada, Mỹ, Úc và các nguồn cung khác.

