Site icon DOANH NGHIỆP & THỊ TRƯỜNG

Cách nào giảm lãi suất thực chất, khơi thông dòng vốn?

Hàng loạt ngân hàng giảm lãi suất

Ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ làm việc với Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, yêu cầu hệ thống ngân hàng chia sẻ trách nhiệm với người dân, doanh nghiệp thông qua ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay, hướng tín dụng vào đúng lĩnh vực và kiểm soát rủi ro.

Ngay sau đó, nhiều ngân hàng đồng loạt triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi. Cụ thể, KienlongBank giảm lãi suất tới 2,5%/năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung nguồn vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Sacombank thu hẹp biên lợi nhuận xuống 0,79%, đồng thời giảm 2% lãi suất cho khách hàng xuất nhập khẩu từ ngày 13/8 đến hết năm 2026. Ngân hàng này cũng dành khoảng 10.000 – 15.000 tỷ đồng cho các lĩnh vực ưu tiên, hộ kinh doanh và doanh nghiệp FDI, với lãi suất dự kiến 8,5-9%/năm.

Trước đó, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank đều triển khai các gói tín dụng ưu đãi quy mô 50.000 – 70.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với thông thường.

Nhiều ngân hàng giảm lãi suất cho vay cho doanh nghiệp sau cuộc họp với Thủ tướng.

Một số ngân hàng khác cũng tham gia cuộc đua giảm lãi suất. BVBank dành 2.500 tỷ đồng với lãi suất từ 9,7%/năm; Nam A Bank giảm 0,5 – 0,7%/năm đối với các khoản vay sản xuất kinh doanh; NCB giảm 0,5%/năm cho cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Điểm chung của các chương trình là tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, công nghệ cao, kinh tế số và các dự án hạ tầng trọng điểm.

Việc nhiều ngân hàng cùng giảm lãi suất được kỳ vọng giúp giảm chi phí tài chính, cải thiện dòng tiền và tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng hoạt động.

Hiến kế để giảm lãi suất thực chất

Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Kim Hùng – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam – cho rằng, giảm lãi suất cho vay là tín hiệu tích cực, nhất là với những doanh nghiệp đang có dư nợ. Tuy nhiên, với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, nút thắt lớn hơn vẫn là khả năng tiếp cận vốn.

“Giảm lãi suất là tín hiệu tích cực, nhưng vấn đề là doanh nghiệp có thực sự tiếp cận được nguồn vốn đó hay không”, ông Hùng nói.

Ông Nguyễn Kim Hùng – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (ảnh: Dương Triều).

Ông Hùng đề xuất, Nhà nước nghiên cứu cơ chế có thể gọi là “tín dụng trong tài khóa”, tức kết hợp chính sách tín dụng với chính sách tài khóa để tạo thêm dòng tiền cho doanh nghiệp.

Theo đề xuất, các khoản thuế, phí và nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước có thể được xem xét làm cơ sở hình thành một khoản tín dụng ngắn hoặc trung hạn.

Chẳng hạn, một doanh nghiệp hoạt động ổn định, nhiều năm liên tục thực hiện nghĩa vụ thuế, phí khoảng 3-5 tỷ đồng/năm. Thay vì phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ tài chính ngay tại thời điểm phát sinh, doanh nghiệp có thể được nghiên cứu cho phép sử dụng trước một phần nguồn lực này thông qua khoản tín dụng được thiết kế trên chính nguồn thu tương lai. Khoản vay có thể áp dụng lãi suất ưu đãi, tham chiếu lãi suất tiền gửi bình quân của các ngân hàng và giảm thêm 1-2%. Doanh nghiệp trả lãi hàng tháng, trong khi phần gốc có thể trả theo quý hoặc theo năm.

Theo ông Hùng, đây không phải là việc Nhà nước phải bỏ ngay một khoản ngân sách tương ứng để cho doanh nghiệp vay, mà là cơ chế giúp doanh nghiệp có thêm thời gian và dòng tiền để duy trì sản xuất kinh doanh, đồng thời vẫn thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Để kiểm soát rủi ro, ông đề xuất trước mắt thí điểm gói khoảng 10.000 tỷ đồng, lựa chọn những doanh nghiệp hoạt động ổn định, có lịch sử thực hiện nghĩa vụ thuế đều đặn. Sau 6 tháng hoặc một năm đánh giá hiệu quả, nếu cơ chế vận hành tốt có thể nâng quy mô lên 50.000 tỷ, 100.000 tỷ đồng. “Đây là Nhà nước cho vay trong tương lai”, ông Hùng nhấn mạnh.

Ông Hùng cho biết, cách tiếp cận này còn tạo động lực để doanh nghiệp duy trì hoạt động minh bạch, ổn định và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính. Quan trọng hơn, chính sách hỗ trợ sẽ chuyển từ giảm chi phí vốn đơn thuần sang tạo điều kiện để doanh nghiệp thực sự có vốn.

Tại một hội thảo mới đây, ông Nguyễn Sơn – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC) – cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, theo một nghiên cứu được dẫn lại, nền kinh tế cần khoảng 1.500 tỷ USD vốn từ nay đến năm 2030. Vì vậy, không thể chỉ trông chờ vào tín dụng ngân hàng mà cần khơi thông đồng thời các nguồn lực trong nước và quốc tế, vốn cổ phần và vốn nợ. Trong đó, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, cần được phát triển mạnh hơn để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Ông Sơn cho biết thị trường chứng khoán Việt Nam đang có bước tiến quan trọng khi FTSE Russell xác nhận nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp, có hiệu lực từ ngày 21/9/2026. Đây được xem là cơ hội để thu hút thêm dòng vốn quốc tế. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các công cụ huy động vốn dài hạn như quỹ đầu tư bất động sản, cơ chế đối tác bù trừ trung tâm, kết nối giữa ngân hàng lưu ký và công ty chứng khoán, đồng thời tháo gỡ các rào cản để nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường…

Nguồn

Exit mobile version